TÁC GIẢ TÁC PHẨM
tranh của Cinderella Tran
DU TỬ
NHỜ CẬY CON CHỮ.
__________________________________________________________
Năm 1946, khi chạy giặc tản cư về phương nam, Ba tôi gửi tôi ở tạm nhà Bác Tu nơi Bưng Tràm. Tại đây, Chị Liêu, con Bác Tu, tặng Bé Thuận một tờ giấy dó có ghi một chữ A lớn và dạy Bé tập đọc tập viết những chữ cái vỡ lòng trên trang giấy kẻ ô vuông.
* Vài tháng sau, chữ A theo tôi tản cư về thôn Hòa Minh, rồi lại tản cư ngược lên rừng Sao Cháy vì máy bay ném bom bắn phá tan nát Xóm Rẫy. Tại Sao Cháy, tôi và Trần văn Đoàn, nguời em kết nghĩa, bên nhau cắp sách đến Trường Tản Cư. Lúc ra chơi, trong buổi học đầu tiên, tôi đưa cho Đoàn xem chữ A trên trang giấy dó và kễ cho Đoàn nghe về Chị Liêu ở Bưng Tràm. Đoàn chỉ vào chữ A, chậm rãi nói “ Con chữ tản cư, vì nó đã từ Bưng Tràm tản cư đến Xóm Rẫy, từ Xóm Rẫy lại tản cư về Rừng Sao Cháy, nay vào Trường Tản Cư”.
* Năm 1954, sau ngày đình chiến, Ba Má tôi về Mỹ Tho thăm họ hàng, tôi về Tân Lý thăm Mẹ tôi, sau nhiều năm xa cách. Trước khi chia tay, Đoàn xin “Chữ A tản cư” làm lưu niệm.
Về Tân Lý, tôi mới biết Mẹ tôi ở nhờ nhà Dì Năm Mừng, chằm lá mướn sống qua ngày. Nhiều người khuyên tôi ở lại, kiếm việc làm, giúp Mẹ tôi bớt khổ và tôi đã nhận lời chăn trâu cho anh Năm Cận. Khi thả trâu ở Láng Đá, tôi thấy Chị Đỗ thường giúp đở những bạn chăn trâu “mù chữ” tập đọc tập viết. Tôi nhặt một tấm mo cau rừng, cắt vuông, ép phẳng, dùng gai nhọn khắc một chữ A lớn như chữ A của Chị Liêu từng dạy tôi. Đoàn giữ “Chữ A tản cư” trên tờ giấy gió, tôi giữ “Chữ A” trên tấm mo cau rừng.
* Ở gần Mẹ chưa đầy hai năm, Mẹ tôi cho biết “Ba Bảy bị bắt”. Xuống Láng Găng, tôi mới biết Má Bảy đang sống trong hoàn cảnh bất ổn vì Ba Bảy đã bị đày ra Côn Đảo Sáng hôm sau, Thầy Thân vội đưa tôi lên phố, đến nhà kho của Tu viện Saint Paul. Một dì phước dẫn tôi đến gặp Seur Bề Trên. Seur bảo tôi ở tạm nơi đây chờ làm lại khai sanh để được sống bình thường như mọi người và khuyên tôi nên đi học, mọi việc Tu Viện sẽ lo. Tôi buồn ôm chặt tu ví đựng quần áo vào lồng ngực khiến tấm mo trồi lên như nhắc nhở điều gi. Tôi thầm nhận ra Chữ A đang theo tôi “tản cư” đến đây. .
Khi học đệ thất Trường Sỹ Tải, tôi ở chung nhà trọ với anh Phi Vân học đệ tứ. Anh thấy tôi lù khù nên thường dặn dò tôi đôi điều. Cuối năm học, anh bảo tôi viết cho anh vài chữ vào quyển “Lưu bút ngày xanh”. Tôi ngần ngại không biết viết gì. Anh liền giải thích về nhật ký, bút ký, tùy bút, lưu bút, và cho tôi một tập giấy trắng có bìa cứng. Tôi dán tấm mo có chữ A lên mặt bìa trước và từ đây tôi tập ghi lại đôi điều “nghe thấy trên đường đời” trên trang “tùy bút”.
* Tháng Tư năm 1975, Ban Quân Quản tịch thu toàn bộ sách báo băng nhạc của tôi, trong đó có trên 6.000 trang tùy bút. Khi được làm “giáo viên lưu dung” trường Cấp 3 Hàm Tân, tôi làm đơn xin lại những trang tùy bút, nhưng Sở Công An Bình Thuận trả lời “không tìm thấy”. Dường như, những “con chữ không tìm thấy” đã “tản cư” vào hố rác hoặc trôi theo dòng nước về biển khơi. Cũng dường như, “con chữ lưu bút” đã theo đoàn người “vượt biên” tản cư ra nước ngoài, rong chơi cùng cát bụi. .
.
* Năm 1993, Nhóm Ba Lá “tìm” lại được những bài viết về “mùa gió” khi tôi dạy học ở Hà Tiên và biên tập thành “Mùa Bấc Biển” với tên tác giả Đoàn Thuận. Sau khi “mùa Bấc Biển” được giải Dục Thanh, nhiều người biết tôi còn sống, còn đi dạy nhưng không còn “trang tùy bút” nào. .
Do vậy, Giáo sư Bách, ở Paris, mở Blog “ĐOÀN THUẬN rong chơi cùng cát bụi” trên Wordpress làm nơi “tập hợp”những bài viết của Cát Sỹ Trần văn Thuận trước 1975. Nhờ đó, nhiều thân hữu giúp đở Trần Cát Tường sưu tầm và biên tập thành 26 tâp tùy bút văn vần như thơ.
Nhưng, đây chỉ là “lời nói” truyền qua mạng internet và in lại bằng máy vi tính, không phải chữ A do Chị Liêu viết tay trên tờ giấy dó ở Bưng Tràm vào ngày đầu “tản cư’ năm 1946; cũng không phải chữ A do tôi khắc trên tấm mo cau vào ngày chăn trâu ở Láng Đá, sau đình chiến 1954.
* Như vậy, “con chữ” của tôi đã “tản cư”, đã “rong chơi cùng cát bụi”.
Thảo Điền, 2014. .
ĐOÀN THUẬN. .
Tản cư, con chữ đi về đâu ?
Dưới bóng mây trôi sóng bạc đầu.
Trong lòng hố rác đầy cát bụi.
Hay vẫn rong chơi nơi bễ dâu.
An Nhơn, 2018
ĐOÀN THUẬN.
.
tranh của Igor Zenin
Bài trên đây được lưu lại dưới tiêu đề
DU TỬ
NHỜ CẬY CON CHŨ.
tg.Đoàn Thuận.
[thơ đoàn thuận .tr3]
.
TÁC GIẢ
ĐOÀN THUẬN
* Đoàn Thuận tên thật là Trần văn Thuận, tự Cát Sỹ. Sinh năm 1943 tại Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa (theo khai sanh). Thực ra, ông sinh năm Canh thìn, 1940, tại làng Tân Lý, La Gi, tỉnh Bình Thuận, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Trần Văn Ngự, một lý trưởng của làng trong nhiều năm.
* Năm 1946, Pháp chiếm nhà làm đồn Tân Lý và cha ông đã qua đời trên đường chạy giặc. Ông theo Ba Má nuôi tản cư qua những cánh rừng dọc theo bờ biển từ La Gi đến Bình Châu.
* Sau 1954, gia đình ly tán, ông lưu lạc nhiều nơi, làm nhiều công việc để được đi học và đã …
+ học xong tiểu học ở Bình Châu,
+ học trung học đệ nhất cấp ở Gia Định,
+ học ban tú tài ở Bà Rịa,
+ học Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm ở Sài Gòn.
* Năm 1963, ông dạy Văn tại trung học tư thục Thánh Tâm,Thánh Mẫu,Thủ Khoa Huân,
ở Sài Gòn.
Năm 1969, ông tốt ngiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, ngạch Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Ra trường ông lập gia đình với cô Phạm Thị Kim Thoa và dạy Văn tại trung học Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. .
Năm 1972, ông chuyển nhiệm sở về trung học Bình Tuy dạy Anh văn và dạy thêm tại trung học tư thục Vinh Tân, Bồ đề Quảng Đức.
* Sau 1975, ông được trả quyền công dân và xếp vào loại giáo viên lưu dung.dạy Văn tại trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải .
Năm 1977,làm phó hiệu trửơng trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Năm 1994, làm hiệu trưởng Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận .
* Năm 2007, ông nghỉ hưu tại Thảo Điền, Tp.Hồ Chí Minh.
TÁC PHẨM
TÁC PHẨM với NỘI DUNG .
[bấm vào tên tập sách]
MIỀN ĐẤT TRỌ:
+ La Gi ngàn xanh [nxb Trẻ 1997] [tr.tg.đoàn thuận 19]
+ Sài Gòn và tôi. [in vi tính] [trang.tác giả đoànthuận 4]
+ Mùa bấc biển. [nxb Văn nghệ Tp.HCM,1994] [tr.tác giả.đoàn thuận 17]
+ Mái xưa [nxb Văn học,2013] [tr.tg.đoanthuan 8]
DU TỬ:
+ Rong chơi cùng cát bụi. [nxb Văn Học,2012][tr.tg.đoàn thuận 3]
+ Dưới bóng mây [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận.20]
+ Khoảng lặng của hoa. [ nxb Trẻ, 2001] [tr.tg đoàn thuận 15]
Lời thư bụi (thơ Cát Hoa) [tr.lưu bút 4]
QUAN HỆ XẢ HỘI:
+ Tạ ơn đời (lục bát tam cú) [nxb Văn học 2013] [tr.tg.đoàn thuận 7]
+ Lời chiều.(lục bát tứ tuyệt) [nxb Trẻ,1996][tr.tg đoàn thuận 5]
+ Lửa đầu non. (lục bát trường thiên) [nxb Trẻ,1999] [tr.tg đoàn thuận 6]
+ Tượng. [nxb Trẻ, 2002] [tr.tg đoàn thuận 13]
+ Dưới hoa [nxb Văn học 2013] [tr.tg đoàn thuận 14]
+ Lửa đêm mưa. [nxb Trẻ 1998] [tr.đoàn thuận 12]
+ Đời sậy [nxb Trẻ, 2003] [tr.đoàn thuận 18].
+ Dấu xưa [in vi tính] [thơ đường luật.2]
+ Mây mưa (truyện thơ) [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 16]
VĂN HÓA GIÁO DỤC:
+ Sắc phượng.[Hội VHNT Bình Thuận,2006 ] [tr.đoàn thuận 9]
+ Mùa trọ học [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 10]
+ Búp sen (thơ thiếu nhi) [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 11].
Con chữ và tôi [in vi tính]. [tr.tg Đoàn Thuận. 22]
+ Những điều nghe thấy [in vi tính] [tr.trào phúng.51]
THƠ DỊCH:
+ Đường Thi [ thơ dịch] [nxb Văn Học, 2012] [thơ dịch.2>>82]
+ Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch)[nxb Thời đại 2014] [tthơ dịch.9]
+ Mùa thạch thảo [nxb Văn học, 2013] [thơ haiku.2]
THẾ SỰ:
+ Đất và Người [nxb Thanh niên, 2013] [tr. trào phúng.48]
+ Tiếng dội từ đất [in vi tính] [tr.trào phúng.50]
+ Nghe thấy và nghĩ [vi tính] [trang traò phúng.53]
+ Họa hủy diệt [in vi tính] [tr,trào phúng.52/
BÚT KÝ:
+ Những mảng vỡ thời gian [bị tịch thu,1975]
+ Những miền đất trọ.[bị tịch thu,1975]
+ Sậy dại trước gió mùa [in vi tính] [tgđt 21]
THƯ PHÁP
+ Giọt mùa (thư pháp) [in vi tính]
TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
+ 29 tượng bán thân được chạm từ vài loại đá đặc biệt ở La Gi
+ 7 tựợng nhỏ từ rễ cây gỗ quí ở La Gi.
Như vậy, .
+ trên 40 năm ông gắn chặt đời mình với phấn trắng bảng đen, với biết bao thăng trầm như một số phận. Ông tự ví cuộc đời ông như cuộc rong chơi cùng cát bụi. + 26 tập sách ghi lại cuộc đời lưu lạc xa mẹ xa quê của ông như một hành trang.
THỂ LOẠI.
______________________________________________________
Ngoài thể Đường luật lâu đời theo dòng văn chương Việt-Hán, hay thể Tự do thoát thai từ thơ ca Tây phương trong phong trào Thơ mới và thể Haiku của Nhật Bản, thơ Đoàn Thuận phần lớn được viết theo thể Lục bát thuần Việt. .
1.LỤC BÁT. Lục Bát Đoàn Thuận có ba dạng: .
+ Lục bát trừơng thiên,
+ Lục bát tứ tuyệt,
+ Lục bát tam cú.
* Lục bát trường thiên gồm có ba cặp lục bát tức sáu dòng thơ trở lên. Lửa đầu non, Trường ca La Gi, truyện thơ Mây Mưa đươc viết theo thể dạng này. Thơ tiếng nước ngoài cũng được ông dịch sang lục bát như tập Đường ihi và Thơ thiền Vương Duy. .
* Lục bát tứ tuyệt chỉ có hai cặp lục bát trong bốn dòng thơ. Một bài Lục bát tứ tuyệt thường bày tỏ dứt điểm một ý chính. Mở đầu tập Lời Chiều, ông viết: .
Bốn câu lục bát xa xôi.
gửi Mẹ khúc hát một thời ru con
gửi vầng trăng phía sau non
lá dương liễu rụng lối mòn về Em.
Bốn câu lục bát ghi trọn nỗi nhớ quê của một đứa con lưu lạc xa xôi. Trong cõi nhớ ấy, có Mẹ ru con, có Em dạo quanh con đường lá dương liễu rụng dưới vầng trăng quê hương. Bốn câu lục bát như khúc hát một thời, như lối mòn đi về trong ký ức. Nỗi nhớ dịu êm một thoáng buồn.
* Lục bát tam cú (Lục bát ba câu) gồm 20 âm tiết phân trên 3 dòng 6/8/6,ghi lại một ý chính. Tựa của tập thơ Tạ Ơn Đời ghi:
Tạ ơn trời đất núi sông,
cho tôi xuôi ngược chơi rong một thời,
tạ ơn Mẹ,tạ ơn đời.
Một bài tam cú có thể có nhiều khổ để lưu lại nhiều ý liên kết nhưng chữ thứ 6 trong câu cuối của khổ một 1 phải hiệp vận với chữ thứ 6 trong câu đầu của khổ 2. Khổ 1 trong Một trang viết không ghi đầy đủ các ý nên cần đến khổ 2 như dưới dây.
1.
Đôi dòng lục bát ba câu.
sao gom hết được mối sầu nhân gian.
Sách xưa mối mọt nhấm vàng.
2.
Rách nhầu giấy dó tan hoang.
Án thư nghiên bút mênh mang gió lùa.
Trời chờ phác thảo đêm mưa.
Chữ vàng hiệp với chữ hoang theo vần ang. Cứ như thế nếu có khổ 3. Đây chính là sự khác biệt giữa Luc bát tam cú của Đoàn Thuận và Lục bát ba câu của tác giả khác.
2. Thể HAIKU:
Đầu thập niên 60, trên trang lưu bút của nhóm Kiến trúc Saigon
xuất hiện những bài thơ Haiku viết tay, theo kiểu thư pháp, không tựa đề, chỉ ký tên Trần Thuận. Khi về Thảo Điền, chúng tôi có dịp liên hệ với các nhóm thân hữu của ông và sưu tập được gần 200 bài Haiku cùng trên 30 bức thư họa. Với sự hỗ trợ của nhóm Ái hữu Đại học Sư phạm Saigon ở Pháp, chúng tôi biên tập thành Giọt Mùa, một tập thơ Haiku với 130 trang thư pháp.
Năm 2013, Nhóm Thân Hữu ở Pháp, một lần nữa, giúp chúng tôi xin giấy phép xuất bản tập Mùa Thạch Thảo. Trong tập thơ này, ông dùng thể Haiku của Nhật Bản để ghi lại cảm nhận của mình khi đọc các Quẻ trong Kinh Dịch của Trung Quốc.
Haiku là thể thơ cổ của Nhật Bản xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6. Một bài Haiku gồm 17 âm tiết phân bố trên ba dòng 5/7/5 theo một bố cục chặt chẽ, trong đó phải có nội dung về Mùa. Đoàn Thuận vẫn giữ đủ 17 âm tiết trên 3 dòng, nhưng thứ tự dòng thơ đôi khi thay đổi và có vần điệu ở cuối câu cho phù hợp với âm sắc Tiếng Việt. Do đó, Haiku Đoàn Thuận rất gần với dạng Lục bát ba câu trong thơ ca Việt Nam.
Ví dụ:
sợi tóc trắng trên gối,
tơ nhện giăng ngang hạt lệ trời,
nghe gần bước chân mỏi.
3.Thơ trào phúng.
Đoàn Thuận có mảng trào phúng phản ánh hiện thực xã hội khá phong phú trong 6 tập thơ sau:
+Đất và Người,
+Tiếng dội từ đất,
+Những điều nghe thấy,
+Nghe thấy và nghĩ,
+Họa hủy diệt.
4. Bút ký.
Ngoài phần thơ nói trên, Đoàn Thuận còn có 5 tập bút ký, dưới dạng tùy bút, gồm những đoản văn ghi lại Những mảng vỡ thời gian, Những miền đất trọ, ký tên Trần Văn Thuận. Trong sáu ngàn trang bản thảo, ông ghi lại những gì ông nghe thấy trên đường đi học và đi dạy từ năm học đệ thất ở Bà Rịa đến 1970, khi ông dạy học ờ Hà Tiên.
Năm 1975, Ban Quân quản đã tịch thu 5 tập bút ký cùng với nhiều sách quí xuất bản ở miền Nam. Sau đó nhiều lần ông có làm đơn xin lại những tập bút ký nói trên nhưng Sở Công an Bình Thuận đều trả lời “không tìm thấy”.
Năm 2012, khi về nghỉ hưu ở Thảo Điền, nhiêu thân hữu, đã từng đi học đi dạy với ông trước 1975, hỏi thăm về hoàn cảnh sinh sống của ông. Qua internet, ông cảm tạ quí thân hữu bằng hồi ức về một thời đã qua.Chúng tôi sưu tập và lưu lại trong tập tủy bút Sậy dại trước gió mùa.
GHI CHÚ
_________________________________.
. Về thể loại, dường như Đoàn Thuận có cách dụng riêng để ghi lại cảm nghĩ của mình trước cuộc sống:
* Ở mảng thơ tự do, ông có những bài ít lời rất cô đọng, nhưng cũng có câu rất dài theo thể Hậu hiện đại để diễn tả trọn vẹn một sự việc hay một ý nghĩ, như trong Giọt thời gian có mấy câu: .
chậm chạp ngày qua cây sầu đông làn sương nhạt .
lối sỏi thềm hoa, sa lông trống, không ai về.
phin buổi sáng nhỏ giọt, đậm đặc, thời gian cà phê
muỗng nhỏ,thẩu đường,chờ dỗ ngọt tách pha lê đắng
mùa đi, bao nhiêu năm, ta về một góc quê.
Ở mảng bục bát. Ông giữ đúng luật âm vận ở cuối câu, còn lại đôi khi ông cách nhịp, tách ý rất lạ.
Con tàu mang nỗi nhớ qua.
Nhớ, ta nhớ cả đường xa phố gần.
Không mong,ngày đi hao dần.
CHỦ ĐỀ
.
ĐẤT và NGƯỜI là chủ đề chính trong tác phẩm của Đoàn Thuận.Đất đối với ông là Trái Đất của muôn loài, là lãnh thổ của một dân tộc, là quê quán của một Người. Người tìm Đất khẩn hoang lập ấp, khai thác tài nguyên, xua đuổi thú dữ để tồn tại. Đất cũng là mục tiêu của chiến tranh xâm lược, là nơi chôn dấu bao xác Người.
Đất là nơi Người đến trọ.
Đất không ngừng biến đổi,
Người luôn tìm chốn bình yên.
Đôi khi chỉ cần một rẻo Đất để dựng mái lều, gieo hạt giống.
Nhưng Người phải đối diện với Thú
Chủ đề Đất và Người được thể hiện qua những đề tài khác nhau.
* Trong mảng thơ trào phúng, Đoàn Thuận phản ánh một phần hiện thực của xã hội loài người đôi khi pha lẫn đôi điều phê phán.
+ Đất và người: Tập thơ phản ánh mối quan hệ chằng chịt giữa người và người, những biến động xã hội, cùng những biến đổi khí hậu toàn cầu.
+ Những điều nghe thấy, Nghe thấy và nghĩ: ghi lại những sai lầm dẫn đến những hậu quả biện chứng của một chế độ độc tài toàn trị.
+ Họa hủy diệt, Tiếng dội từ đất: Nông nghiệp và ngư nghiệp là hai nguồn sinh sống của dân tộc Việt Nam có từ thời Lạc Hồng, nay bị đe dọa hủy diệt và Dân đứng lên đấu tranh giành lại chủ quyền trên mảnh đất tổ tiên.
* Trong mảng thơ trữ tình, Đoàn Thuận như một du tử, một đứa con xa Mẹ rong chơi qua cõi đời gió bụi. Trong cuộc lữ hành, du tử gặp bạn đời dưới bóng hoa, nhớ mẹ nơi quán trọ,mong về quê cũ bên thềm ga vắng
+ La Gi ngàn xanh, Sài Gòn và tôi, Mùa bấc biển, Lửa đầu non, Tượng chính là một quê hương, một mảnh đất trọ, một cõi di về của du tử.
+ Rong chơi cùng cát bụi, Tạ ơn đời là cuộc lữ hành của du tử.
+ Mái xưa, Lời chiều là nỗi nhớ quê nhớ mẹ.
+ Dưới hoa, Khoảng lặng của hoa, Lửa đêm mưa: Du tử cùng bạn đời chia sẻ buồn vui giữa cuộc đời dâu bể.
+ Sắc phượng, Búp sen : Du tử dưới mái trường.
Thảo Điền, 2012.
TRẦN CÁT TƯỜNG
TƯỢNG
do Đoàn Thuận tạc
.