TÁC GIẢ TÁC PHẨM
tranh của Cinderella Tran
DU CƯ dưới
NẮNG MƯA.
________________________________________________
DU TỬ HỒI HƯƠNG
.
Tháng 10 năm 1972, Bộ Giáo dục đột
nhiên gửi giấy điều động tôi về trường Trung học Bình Tuy dạy Anh văn, sớm hơn
qui định hai năm.
Về lại quê nhà, nhưng với tôi,
Bình Tuy còn nhiều điều lạ lẫm, vì tôi đã xa quê lưu lạc từ ngày bé thơ, dù có
đôi lần đi về. Thường ngày, tôi đến thẳng lớp, dạy xong về nhà, ngại giao tiếp
trừ khi cần
thiết.
.
* Khi ổn định mọi việc, tôi về Tân Lý
tìm thăm những người bạn chăn trâu đã cách xa trên nhiều năm. Thôn xóm đồng quê
thay đổi quá nhiều. Anh Năm Cận cho biết nhóm bạn chăn trâu ngày nào, giờ chỉ
còn lại Tư ở gần đập Đá Dựng, và Tráng ở Tân Long. Ai cũng có một mái nhà ổn
định, chỉ riêng tôi vẫn còn “du cư”.
Chúng
tôi thường gặp nhau tại nhà Tráng, ở Xóm Lưới, dưới chân động Tiên Sa. Một ly
bia, một miếng cá đuối nướng, một điệu boléro hòa theo tiếng sóng rì rào nơi bờ
cát, như gợi lại bao điều của thời thơ dại. Tư hay nhắc đến mái ngói của trường
Bình Tuy, ngày Tư học đệ thất, khác xa bao mái tranh lụp xụp. Chiếc áo dài
trắng của nữ sinh không giống chiếc áo vá đầy bụi của chị Đỗ, dạy lớp Bỏ túi
Láng Đá. Tư cũng có một cuốn lưu bút ngày xanh của thời đi học, nhưng bìa là
hai tấm mo cau rừng, trên khắc đầy tên bạn chăn trâu, có cả tên tôi và Tráng.
Sau này, trường Bình Tuy có thêm một dãy lầu, nhưng bốn lớp mái ngói xưa vẫn
còn nguyên, như ngày mới thành lâp. Ngày ấy, chúng tôi, đôi khi, nhìn mái ngói
đỏ trên nền đá cao, nhìn những thư sinh áo trắng, thầm mơ ước được cắp sách vào
trường Trung học.
Dường như, chỉ có Tư được ngồi học trong lớp
mái ngói trường Bình Tuy như ước mơ, còn bạn trong nhóm Láng Đá lưu lạc, xa dần
quê hương. Riêng Tráng sớm rời Lớp học Bỏ túi đi lính, rồi bị thương nặng, được
giải ngũ trở về, tiếp tục học Lớp Tráng niên trường tư. Khi đỗ tú tài một,
Tráng xin việc làm, nhưng không nơi nào nhận vì bị thương. Thấy vậy, nhiều nhà
khá giả nhờ Tráng kèm tư gia, luyện thi Trung học đệ nhất cấp.
Còn
tôi, ngày từ giã các bạn ra đi, chỉ mong có bằng tiểu học,nhưng nhờ nhiều người
giúp đỡ, đã học đến nơi đến chốn và đi dạy ở Hà Tiên. Nơi quê hương Đông Hồ,
tôi được hưởng thâm niên nước độc, chỉ chờ qua bốn năm sẽ có quyền xin về quê
nhà La Gi, dạy nơi nào cũng được. Bất ngờ, Nha Trung học điều động tôi về Trung
học Bình Tuy dạy Anh văn. Bất ngờ, ở chỗ dạy Anh văn không phải Việt văn, ở chỗ
chưa hết thời hạn bốn năm, ở chỗ về trường Tỉnh chứ không phải một trường Làng.
.
* Mới về, tôi “ở nhờ” nhà Ba tôi gần trường Bồ Đề Quảng Đức. Ban ngày tôi qua
trường dạy vài giờ Anh văn, ban đêm tôi tham gia cours Pascal. Tại đây, thầy
Nguyễn Phát Minh giới thiệu tôi với thầy Nguyễn Tấn Hưng dạy Toán, thầy Đào Văn
Lộc dạy Lý, cô Trịnh thị Nghĩa dạy Sinh vật. Dần dà, chúng tôi thành nhóm thân
hữu Pascal, giúp đỡ nhau trong giảng dạy cũng như ngoài cuộc sống. Khi thầy
Nguyễn Tấn Hưng chuyển về Sài Gòn, Cours Pascal dừng lại, nhưng nhóm vẫn duy
trì tình thân hữu mãi về sau này.
Cô
Nghĩa và thầy Lộc là giáo sư tư nhân dạy giờ, chẳng những dạy ở Trung học Bình
Tuy, mà còn ở nhiều tư thục trong tỉnh. Thầy Đào văn Lộc như trung tâm nối kết
giáo sư cũ và mới, tư nhân và chính ngạch, trong ngành và ngoài ngành.
Chính nhóm thân hữu này giúp tôi khắc phục thói xấu sống mặc cảm. Đặc biệt, cô Nghĩa
thường chọc quê, gọi tôi là “anh không lời”, khi hỏi đôi điều tôi không thể trả
lời được, hay nín thinh khi nhóm gặp nhau.
Đầu năm 1973, vì nhà Ba tôi
chuẩn bị lên lầu, nên tôi “thuê lại” một căn nhà của thầy Lượng trong làng
Thương Phế Binh, để ở tạm. Tại đây, tôi nhận ra trên Dốc Tỉnh có vài Xóm Học.
Học sinh nơi xa về tỉnh học, thường xin ở nhờ nhà bà con, hay thuê tạm một
phòng trống trong nhà dân. Đây không phải nhà trọ hay gác trọ, mà là một nơi ở
bình thường, dưới mái nhà của phụ huynh bình thường. Đông nhất là Xóm học Đồng
Tiến quanh trường Trung học Bình Tuy và Xóm học Đồi Sim gần Suối Đó. Vào mùa
học,sau khung cửa, nghiêng nghiêng những mái đầu trên trang vở, bên ánh đèn
khuya. Đôi khi, tiếng học bài theo gió ru qua bờ hoa, bay vào bao la. Vào hạ,
xóm học khuất màu áo trắng, tắt ánh đèn đêm, chỉ còn trong tôi nỗi mong ngóng
mùa học mới.
Nghỉ
hè, tôi tìm gặp các bác phụ huynh cao tuổi, lão ông bản địa, để hỏi thăm về cội
nguồn của La Gi. Nhờ đó, tôi dò dẫm đi thăm những nơi tổ tiên ông bà cha mẹ
chúng tôi đã từng sinh sống. Đến đâu, thấy gì, nghe gì, tôi ghi lại những điều
tiêu biểu về phong cảnh, về tình làng nghĩa xóm, nơi Đất Mẹ. Cuối hạ 1974, tôi
có 4 tập tùy bút Trường ca Lagi, Mái xưa,
Lagi ngàn xanh, Huyền thoại Hòn Bà Núi Ông. Tôi dự định vào mùa hạ
1975, về thăm Dinh Ông, sông La Ngà, rừng La Dạ, để bổ sung cho những tập bản
thảo nói trên.
Nhưng cuối năm 1974, thời cuộc lắm biến động, nhiều thầy cô rời Trung học Bình
Tuy ra đi, tôi trả nhà lại cho thầy Lượng dọn về ở nhờ nhà Ba tôi, trong tâm
trạng bất
an.
*
Đầu năm 1975, Trung học Bình Tuy gần như
đóng cửa. Dãy lớp học mái ngói, tượng trưng cho ngôi trường ngày mới thành lập,
là nơi tạm trú cho người chạy loạn.
Hè 1975, bảng hiệu Trung học Bình Tuy thay
bằng Trường C3 Hàm Tân. Tôi đâu còn là “giáo sư trung học”, chỉ là một “giáo
viên lưu dung”, “được ở” trong
khu “tập thể” trường Cấp 3 Hàm Tân như một kẻ “vô gia cư”.
La Gi, 1976.
CÁT SỸ.
.
NỖI QUÊ
Nửa đời bỏ ruộng đi
theo sách
Nhớ điếng lòng quê dáng Mẹ gầy
Tô canh bồ ngót cơm lúa mới
Khói bếp đêm hè vương mắt cay.
CÁT SỸ
NGƯỜI VỀ
Người mang nỗi nhớ quay vềLặng nghe sóng vỗ bến mê bờ đời.
Bụi đường lẫn giọt mồ hôi.
Vương trên nếp trán và môi cười buồn.
La Gi, 1972
CÁT SỸ.
.
tranh của Marina Beikmane
Bài trên đây được lưu lại dưới tiêu đề
DU CƯ
dưới
NẮNG MƯA
Tg.Đoàn Thuận..
TÁC GIẢ
ĐOÀN THUẬN
* Đoàn Thuận tên thật là Trần văn Thuận, tự Cát Sỹ. Sinh năm 1943 tại Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa (theo khai sanh). Thực ra, ông sinh năm Canh thìn, 1940, tại làng Tân Lý, La Gi, tỉnh Bình Thuận, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Trần Văn Ngự, một lý trưởng của làng trong nhiều năm.
* Năm 1946, Pháp chiếm nhà làm đồn Tân Lý và cha ông đã qua đời trên đường chạy giặc. Ông theo Ba Má nuôi tản cư qua những cánh rừng dọc theo bờ biển từ La Gi đến Bình Châu.
* Sau 1954, gia đình ly tán, ông lưu lạc nhiều nơi, làm nhiều công việc để được đi học và đã …
+ học xong tiểu học ở Bình Châu,
+ học trung học đệ nhất cấp ở Gia Định,
+ học ban tú tài ở Bà Rịa,
+ học Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm ở Sài Gòn.
* Năm 1963, ông dạy Văn tại trung học tư thục Thánh Tâm,Thánh Mẫu,Thủ Khoa Huân,
ở Sài Gòn.
Năm 1969, ông tốt ngiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, ngạch Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Ra trường ông lập gia đình với cô Phạm Thị Kim Thoa và dạy Văn tại trung học Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. .
Năm 1972, ông chuyển nhiệm sở về trung học Bình Tuy dạy Anh văn và dạy thêm tại trung học tư thục Vinh Tân, Bồ đề Quảng Đức.
* Sau 1975, ông được trả quyền công dân và xếp vào loại giáo viên lưu dung.dạy Văn tại trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải .
Năm 1977,làm phó hiệu trửơng trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Năm 1994, làm hiệu trưởng Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận .
* Năm 2007, ông nghỉ hưu tại Thảo Điền, Tp.Hồ Chí Minh.
TÁC PHẨM
TÁC PHẨM với NỘI DUNG .
[bấm vào tên tập sách]
MIỀN ĐẤT TRỌ:
+ La Gi ngàn xanh [nxb Trẻ 1997] [tr.tg.đoàn thuận 19]
+ Sài Gòn và tôi. [in vi tính] [trang.tác giả đoànthuận 4]
+ Mùa bấc biển. [nxb Văn nghệ Tp.HCM,1994] [tr.tác giả.đoàn thuận 17]
+ Mái xưa [nxb Văn học,2013] [tr.tg.đoanthuan 8]
DU TỬ:
+ Rong chơi cùng cát bụi. [nxb Văn Học,2012][tr.tg.đoàn thuận 3]
+ Dưới bóng mây [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận.20]
+ Khoảng lặng của hoa. [ nxb Trẻ, 2001] [tr.tg đoàn thuận 15]
Lời thư bụi (thơ Cát Hoa) [tr.lưu bút 4]
QUAN HỆ XẢ HỘI:
+ Tạ ơn đời (lục bát tam cú) [nxb Văn học 2013] [tr.tg.đoàn thuận 7]
+ Lời chiều.(lục bát tứ tuyệt) [nxb Trẻ,1996][tr.tg đoàn thuận 5]
+ Lửa đầu non. (lục bát trường thiên) [nxb Trẻ,1999] [tr.tg đoàn thuận 6]
+ Tượng. [nxb Trẻ, 2002] [tr.tg đoàn thuận 13]
+ Dưới hoa [nxb Văn học 2013] [tr.tg đoàn thuận 14]
+ Lửa đêm mưa. [nxb Trẻ 1998] [tr.đoàn thuận 12]
+ Đời sậy [nxb Trẻ, 2003] [tr.đoàn thuận 18].
+ Dấu xưa [in vi tính] [thơ đường luật.2]
+ Mây mưa (truyện thơ) [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 16]
VĂN HÓA GIÁO DỤC:
+ Sắc phượng.[Hội VHNT Bình Thuận,2006 ] [tr.đoàn thuận 9]
+ Mùa trọ học [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 10]
+ Búp sen (thơ thiếu nhi) [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 11].
Con chữ và tôi [in vi tính]. [tr.tg Đoàn Thuận. 22]
+ Những điều nghe thấy [in vi tính] [tr.trào phúng.51]
THƠ DỊCH:
+ Đường Thi [ thơ dịch] [nxb Văn Học, 2012] [thơ dịch.2>>82]
+ Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch)[nxb Thời đại 2014] [tthơ dịch.9]
+ Mùa thạch thảo [nxb Văn học, 2013] [thơ haiku.2]
THẾ SỰ:
+ Đất và Người [nxb Thanh niên, 2013] [tr. trào phúng.48]
+ Tiếng dội từ đất [in vi tính] [tr.trào phúng.50]
+ Họa hủy diệt [in vi tính] [tr,trào phúng.52/
BÚT KÝ:
+ Những mảng vỡ thời gian [bị tịch thu,1975]
+ Những miền đất trọ.[bị tịch thu,1975]
+ Sậy dại trước gió mùa [in vi tính] [tgđt 21]
THƯ PHÁP
+ Giọt mùa (thư pháp) [in vi tính]
TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
+ 29 tượng bán thân được chạm từ vài loại đá đặc biệt ở La Gi
+ 7 tựợng nhỏ từ rễ cây gỗ quí ở La Gi.
Như vậy, .
+ trên 40 năm ông gắn chặt đời mình với phấn trắng bảng đen, với biết bao thăng trầm như một số phận. Ông tự ví cuộc đời ông như cuộc rong chơi cùng cát bụi. + 26 tập sách ghi lại cuộc đời lưu lạc xa mẹ xa quê của ông như một hành trang.
THỂ LOẠI.
______________________________________________________
Ngoài thể Đường luật lâu đời theo dòng văn chương Việt-Hán, hay thể Tự do thoát thai từ thơ ca Tây phương trong phong trào Thơ mới và thể Haiku của Nhật Bản, thơ Đoàn Thuận phần lớn được viết theo thể Lục bát thuần Việt. .
1.LỤC BÁT. Lục Bát Đoàn Thuận có ba dạng: .
+ Lục bát trừơng thiên,
+ Lục bát tứ tuyệt,
+ Lục bát tam cú.
* Lục bát trường thiên gồm có ba cặp lục bát tức sáu dòng thơ trở lên. Lửa đầu non, Trường ca La Gi, truyện thơ Mây Mưa đươc viết theo thể dạng này. Thơ tiếng nước ngoài cũng được ông dịch sang lục bát như tập Đường ihi và Thơ thiền Vương Duy. .
* Lục bát tứ tuyệt chỉ có hai cặp lục bát trong bốn dòng thơ. Một bài Lục bát tứ tuyệt thường bày tỏ dứt điểm một ý chính. Mở đầu tập Lời Chiều, ông viết: .
Bốn câu lục bát xa xôi.
gửi Mẹ khúc hát một thời ru con
gửi vầng trăng phía sau non
lá dương liễu rụng lối mòn về Em.
Bốn câu lục bát ghi trọn nỗi nhớ quê của một đứa con lưu lạc xa xôi. Trong cõi nhớ ấy, có Mẹ ru con, có Em dạo quanh con đường lá dương liễu rụng dưới vầng trăng quê hương. Bốn câu lục bát như khúc hát một thời, như lối mòn đi về trong ký ức. Nỗi nhớ dịu êm một thoáng buồn.
* Lục bát tam cú (Lục bát ba câu) gồm 20 âm tiết phân trên 3 dòng 6/8/6,ghi lại một ý chính. Tựa của tập thơ Tạ Ơn Đời ghi:
Tạ ơn trời đất núi sông,
cho tôi xuôi ngược chơi rong một thời,
tạ ơn Mẹ,tạ ơn đời.
Một bài tam cú có thể có nhiều khổ để lưu lại nhiều ý liên kết nhưng chữ thứ 6 trong câu cuối của khổ một 1 phải hiệp vận với chữ thứ 6 trong câu đầu của khổ 2. Khổ 1 trong Một trang viết không ghi đầy đủ các ý nên cần đến khổ 2 như dưới dây.
1.
Đôi dòng lục bát ba câu.
sao gom hết được mối sầu nhân gian.
Sách xưa mối mọt nhấm vàng.
2.
Rách nhầu giấy dó tan hoang.
Án thư nghiên bút mênh mang gió lùa.
Trời chờ phác thảo đêm mưa.
Chữ vàng hiệp với chữ hoang theo vần ang. Cứ như thế nếu có khổ 3. Đây chính là sự khác biệt giữa Luc bát tam cú của Đoàn Thuận và Lục bát ba câu của tác giả khác.
2. Thể HAIKU:
Đầu thập niên 60, trên trang lưu bút của nhóm Kiến trúc Saigon
xuất hiện những bài thơ Haiku viết tay, theo kiểu thư pháp, không tựa đề, chỉ ký tên Trần Thuận. Khi về Thảo Điền, chúng tôi có dịp liên hệ với các nhóm thân hữu của ông và sưu tập được gần 200 bài Haiku cùng trên 30 bức thư họa. Với sự hỗ trợ của nhóm Ái hữu Đại học Sư phạm Saigon ở Pháp, chúng tôi biên tập thành Giọt Mùa, một tập thơ Haiku với 130 trang thư pháp.
Năm 2013, Nhóm Thân Hữu ở Pháp, một lần nữa, giúp chúng tôi xin giấy phép xuất bản tập Mùa Thạch Thảo. Trong tập thơ này, ông dùng thể Haiku của Nhật Bản để ghi lại cảm nhận của mình khi đọc các Quẻ trong Kinh Dịch của Trung Quốc.
Haiku là thể thơ cổ của Nhật Bản xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6. Một bài Haiku gồm 17 âm tiết phân bố trên ba dòng 5/7/5 theo một bố cục chặt chẽ, trong đó phải có nội dung về Mùa. Đoàn Thuận vẫn giữ đủ 17 âm tiết trên 3 dòng, nhưng thứ tự dòng thơ đôi khi thay đổi và có vần điệu ở cuối câu cho phù hợp với âm sắc Tiếng Việt. Do đó, Haiku Đoàn Thuận rất gần với dạng Lục bát ba câu trong thơ ca Việt Nam.
Ví dụ:
sợi tóc trắng trên gối,
tơ nhện giăng ngang hạt lệ trời,
nghe gần bước chân mỏi.
3.Thơ trào phúng.
Đoàn Thuận có mảng trào phúng phản ánh hiện thực xã hội khá phong phú trong 6 tập thơ sau:
+Đất và Người,
+Tiếng dội từ đất,
+Những điều nghe thấy,
+Nghe thấy và nghĩ,
+Họa hủy diệt.
4. Bút ký.
Ngoài phần thơ nói trên, Đoàn Thuận còn có 5 tập bút ký, dưới dạng tùy bút, gồm những đoản văn ghi lại Những mảng vỡ thời gian, Những miền đất trọ, ký tên Trần Văn Thuận. Trong sáu ngàn trang bản thảo, ông ghi lại những gì ông nghe thấy trên đường đi học và đi dạy từ năm học đệ thất ở Bà Rịa đến 1970, khi ông dạy học ờ Hà Tiên.
Năm 1975, Ban Quân quản đã tịch thu 5 tập bút ký cùng với nhiều sách quí xuất bản ở miền Nam. Sau đó nhiều lần ông có làm đơn xin lại những tập bút ký nói trên nhưng Sở Công an Bình Thuận đều trả lời “không tìm thấy”.
Năm 2012, khi về nghỉ hưu ở Thảo Điền, nhiêu thân hữu, đã từng đi học đi dạy với ông trước 1975, hỏi thăm về hoàn cảnh sinh sống của ông. Qua internet, ông cảm tạ quí thân hữu bằng hồi ức về một thời đã qua.Chúng tôi sưu tập và lưu lại trong tập tủy bút Sậy dại trước gió mùa.
GHI CHÚ
_________________________________.
. Về thể loại, dường như Đoàn Thuận có cách dụng riêng để ghi lại cảm nghĩ của mình trước cuộc sống:
* Ở mảng thơ tự do, ông có những bài ít lời rất cô đọng, nhưng cũng có câu rất dài theo thể Hậu hiện đại để diễn tả trọn vẹn một sự việc hay một ý nghĩ, như trong Giọt thời gian có mấy câu: .
chậm chạp ngày qua cây sầu đông làn sương nhạt .
lối sỏi thềm hoa, sa lông trống, không ai về.
phin buổi sáng nhỏ giọt, đậm đặc, thời gian cà phê
muỗng nhỏ,thẩu đường,chờ dỗ ngọt tách pha lê đắng
mùa đi, bao nhiêu năm, ta về một góc quê.
Ở mảng bục bát. Ông giữ đúng luật âm vận ở cuối câu, còn lại đôi khi ông cách nhịp, tách ý rất lạ.
Con tàu mang nỗi nhớ qua.
Nhớ, ta nhớ cả đường xa phố gần.
Không mong,ngày đi hao dần.
CHỦ ĐỀ
.
ĐẤT và NGƯỜI là chủ đề chính trong tác phẩm của Đoàn Thuận.Đất đối với ông là Trái Đất của muôn loài, là lãnh thổ của một dân tộc, là quê quán của một Người. Người tìm Đất khẩn hoang lập ấp, khai thác tài nguyên, xua đuổi thú dữ để tồn tại. Đất cũng là mục tiêu của chiến tranh xâm lược, là nơi chôn dấu bao xác Người.
Đất là nơi Người đến trọ.
Đất không ngừng biến đổi,
Người luôn tìm chốn bình yên.
Đôi khi chỉ cần một rẻo Đất để dựng mái lều, gieo hạt giống.
Nhưng Người phải đối diện với Thú
Chủ đề Đất và Người được thể hiện qua những đề tài khác nhau.
* Trong mảng thơ trào phúng, Đoàn Thuận phản ánh một phần hiện thực của xã hội loài người đôi khi pha lẫn đôi điều phê phán.
+ Đất và người: Tập thơ phản ánh mối quan hệ chằng chịt giữa người và người, những biến động xã hội, cùng những biến đổi khí hậu toàn cầu.
+ Những điều nghe thấy, Nghe thấy và nghĩ: ghi lại những sai lầm dẫn đến những hậu quả biện chứng của một chế độ độc tài toàn trị.
+ Họa hủy diệt, Tiếng dội từ đất: Nông nghiệp và ngư nghiệp là hai nguồn sinh sống của dân tộc Việt Nam có từ thời Lạc Hồng, nay bị đe dọa hủy diệt và Dân đứng lên đấu tranh giành lại chủ quyền trên mảnh đất tổ tiên.
* Trong mảng thơ trữ tình, Đoàn Thuận như một du tử, một đứa con xa Mẹ rong chơi qua cõi đời gió bụi. Trong cuộc lữ hành, du tử gặp bạn đời dưới bóng hoa, nhớ mẹ nơi quán trọ,mong về quê cũ bên thềm ga vắng
+ La Gi ngàn xanh, Sài Gòn và tôi, Mùa bấc biển, Lửa đầu non, Tượng chính là một quê hương, một mảnh đất trọ, một cõi di về của du tử.
+ Rong chơi cùng cát bụi, Tạ ơn đời là cuộc lữ hành của du tử.
+ Mái xưa, Lời chiều là nỗi nhớ quê nhớ mẹ.
+ Dưới hoa, Khoảng lặng của hoa, Lửa đêm mưa: Du tử cùng bạn đời chia sẻ buồn vui giữa cuộc đời dâu bể.
+ Sắc phượng, Búp sen : Du tử dưới mái trường.
Thảo Điền, 2012.
TRẦN CÁT TƯỜNG
TƯỢNG
do Đoàn Thuận tạc
.