ĐOÀN THUẬN 2

       

         ĐI HỌC " DƯỚI BÓNG MÂY " 
   __________________________________________________



    Từ BƯNG TRÀM .                                           .
          đến TRƯỜNG SAO CHÁY.   


          N
ăm lên sáu tuổi, một buổi sáng thức dậy, tôi ngỡ ngàng thấy mình đang ở trên ngọn cây, chung quanh yên tĩnh, chỉ nghe xa tiếng chim rừng và ngửi thấy mùi hương kỳ lạ. Anh Lành cho biết khuya đêm trước chúng tôi tản cư đến đây và đang ở trên một nhà chòi giữa Bưng Tràm.   

       * Chòi này của Bác Tu, một thổ dân, bạn của Ba tôi. Chòi được gác trên tám nhánh cây cổ thụ. Cột chòi là những thân cây tràm lớn hơn một vòng tay ôm. Sàn và vách làm bằng vạt cây nhum khá chắc. Mái lợp vỏ tràm dày khum khum như vòm cung. Phía sau, một chái bếp nghiêng sát  mặt sàn, nơi để nhiều chum vại, treo đầy bắp giống và lá thuốc. Phía trước, một chiếc thang dây dẫn đến mảnh đất bên những gốc tràm, ở đó neo hai độc mộc nhỏ. Chòi ở giữa bưng sâu, xa bờ, nên độc mộc là phương tiện để đến nhiều nơi khác.  

          Nhánh tràm phủ xanh cả vòm trời. Lá non thả xuống như liễu rủ, phơn phớt hồng  trước nắng mai. Hoa tràm thoảng nhẹ mùi hương trong lành ngọt ngào như để thu hút lũ ong rừng. Rễ tràm dệt những thảm rêu xanh với vài khóm hoa dại bên đám cỏ bàng ở mé nước. Khi nhàn rỗi, Ba tôi cùng bác Tu thường đến đó ngồi câu cá uống rượu ngắm trăng, giống như hai ẩn sỹ. 

           Cuộc sống ở đây bình dị êm ả. Buổi sáng, khi con chim sớm hót, cả nhà bác Tu bơi độc mộc qua cánh rừng phía tây, về phía nương rẫy. Buổi chiều, khi mặt trời chạm ngọn cây Sộp, bác Tu trở về neo độc mộc vào bụi hoa mua, sát chân cầu thang. Lần nào, bác cũng gùi về một ít vật kiếm được trong ngày như củ khoai, trái rừng, con thịt. Buổi tối, cả nhà quây quần bên vại lửa trò chuyện, đôi khi Bác Tu nói lối đôi câu tiếng Thổ, nghe rất lạ nhưng rất êm tai. Có lẽ, tôi làm quen với tiếng Thổ và con chữ A B ở đây.            

            Lương thực gần như không bao giờ thiếu, ngay cả khi hạn hán, lũ xuống, mất mùa. Lúa ăn giáp hạt. Gạo giã chày tay dùng hàng ngày, dư ra chút ít cho vào chum để dành.

            Thế mà nhà Bác Tu có đến bốn chum gạo dư, bên cạnh các chum đựng nếp, đậu mè và muối hạt. Cá đồng lớn nhỏ đủ loại ở lòng bưng, chỉ cần rê một miếng mồi, cắm vài cần câu, đặt một cái lờ, cá ăn không hết.Thịt chim muông cũng có sẵn trong rừng.Thịt cá ăn không kịp, phơi khô treo giàn bếp, phòng khi giông bão lũ rừng không thể giương cung đặt bẫy đặt lờ. Rau cải hành ớt trồng ngay hốc cây dưới chòi. Quanh năm, cần thứ gì có thức ấy, không cần mua bán nhưng đôi khi có sự trao đổi thức dư thừa để lấy vật thiếu như thuốc men, quần áo, chăn mùng, mắm muối.                   

               Nơi bưng Tràm, ngày mát đêm lạnh suốt hai mùa mưa nắng. Nắng xuyên qua cành lá trên ngọn cây cao, hiếm khi chói chang nóng bức. Một vại lửa đặt giữa chòi sưởi ấm bao đêm lạnh. Vài khúc củi tràm chắc đượm than tí tách ánh lửa, khói tỏa hương trầm dỗ ngon giấc ngủ. Bầu không khí thanh khiết, dân cư sống yên lành no đủ nên chẳng thấy ai ốm đau. Sốt rét ngã nước là mối lo lớn nhất. Để chống bệnh chói nước, bà con nhắc nhau uống chín ăn chín, đêm ngủ giăng mùng, đốt lửa xông lá đuổi muỗi. Riêng bác Tu luôn trữ sẵn ít kí-nin, vài hũ rượu thuốc. Bác đã luống tuổi, râu tóc bạc trắng nhưng da dẻ hồng hào, giọng nói sang sảng, phong thái điềm tĩnh ung dung.

              * Chừng đâu vài tháng, chúng tôi dời về Xóm Rẫy. Buổi sáng ra đi, chị Liêu, người dạy tôi “con chữ đầu lòng”, kéo độc mộc đưa chúng tôi đến bìa rừng. Từ đầu lối mòn, nhìn lại bưng Tràm, tôi mới thấy chòi bác Tu tựa như ngôi nhà sàn của người miền núi. Nhà sàn dựng trên đất. Nhà chòi của bác treo lửng ngọn cây giữa khung cảnh tĩnh mịch nhưng đẹp lạ thường.               .      .     .                     

             Một chuyến xe trâu, một ngày đàng, chúng tôi xuôi theo hướng Nam về thôn Hòa Minh đến Xóm Rẫy, xóm tản cư của ngư dân Hồ Tôm, chạy Tây đến đây đi biển, khai hoang làm vườn. Bên Suối Cát, dưới chân Động Nhọn, lớp Vỡ Lòng ru vang tiếng ê a. Thầy Biện, cô Loan mở thêm lớp, lập Trường Xóm Rẫy. Tôi làm quen với con chữ, ráp vần, đặt câu tại đây. Những con chữ thơm lựng hoa rừng, câu văn ngây thơ như đọng lại tiếng chim chiều.  

              * Một hôm máy bay dội bom nát thôn Hòa Minh. Cửa nhà Xóm Rẫy thành tro than. Má tôi tản cư ngược lên rừng Sao Cháy và dựng một ngôi nhà vách nhum mái lá trên đồi cây cổ thụ. Nhà nhìn ra rẫy lúa, mương rau dại. Tôi theo anh chị đi học tại trường Sao Cháy, cách nhà một láng cỏ lương. Ngoài viêc dạy tại lớp, Thầy Hai Thắng còn cho chúng tôi biết nhiều điều về quê hương đất nước, mỗi khi họp mặt.  Bác Sáu Ngọc đọc vài câu của Truyện Kiều hay Lục Vân Tiên, trong lúc nghỉ ngơi giữa buổi dọn rẫy làm mùa.  Dì Hai Tuất, Thiếm Út Ruộng, vừa chằm lá vừa ngâm nga vài câu hò của ruộng đồng miền Cửu Long, nghe dịu êm một thoáng buồn xa quê. Trường Sao Cháy giúp chúng tôi biết Cộng thêm tình yêu thưong,Trừ dần sự đau khổ vì chiến tranh, Nhân lên kiến thức về cuộc đời, Chia niềm vui nỗi buồn cho nhau, vì tương lai của quê hương. .   

            * Thế rồi, Đình Chiến 54 chia đôi đất nước, Ba Má tôi về Cái Bè thăm quê, tôi về Tân Lý thăm Mẹ. Con đường học vấn của tôi trở nên gập ghềnh. Từ lưng trâu, tôi lò dò từng bước theo đường nghiên bút. Khi tôi đậu tú tài, Thầy Giản Chi gọi tôi là “Cát Sỹ”. Theo Thầy, “cát sỹ” là tên một “học trò chăm chỉ”. Từ dạo ấy, nhiều thầy cô và giáo sư đã dìu dắt tôi vào đại học. Cũng từ đó, có một tên “Cát Sỹ”.  

Tân Thắng, 1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]
                                                        




MÙA HỌC

Thì thôi, Xóm Rẫy mù xa.
Đã bao mùa học đi qua đời mình.

Sao còn trong nỗi lặng thinh ?
Những trang vở, những dáng hình ngây thơ
nghiêng nghiêng trong ánh chiều mờ
và nghiêng trên một vần thơ đầu đời.

Một con đường nhỏ xa xôi.
Một ngôi trường ở trong tôi không lời.

CÁT SỸ
tranh của Jahnavi Tyagi
.

 

 

_______________________________________________________________
.
i trên đây được lưu lại dưới tiêu đề  


 DU TỬ
"DƯỚI BÓNG MÂY"
tg.Cát Sỹ
[tr.51]

.

ĐOÀN THUẬN 2
"tác giả tác phẩm"

 


 TÁC GIẢ
.
CÁT SỸ


          ĐOÀN THUẬN tên thật là Trần văn Thuận, tự Cát Sỹ. Sinh năm 1943 tại Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa (theo  khai sanh). Thực ra, ông sinh năm Canh thìn, 1940, tại làng Tân Lý, La Gi, tỉnh Bình Thuận, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Trần Văn Ngự, một lý trưởng của làng  trong nhiều năm.
       Năm 1946, Pháp chiếm nhà làm đồn Tân Lý và cha ông đã qua đời trên đường chạy giặc. Ông theo Ba Má nuôi tản cư qua những cánh rừng dọc theo bờ biển từ La Gi đến Bình Châu.          
         Sau 1954, gia đình ly tán, ông lưu lạc nhiều nơi, làm nhiều công việc để được đi học và đã
+ học xong tiểu học ở Bình Châu,    
+ học trung học đệ nhất cấp ở Gia Định,   
+ học ban tú tài ở Bà Rịa,               .
+ học Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm ở Sài Gòn.

         Năm 1963, ông dạy Văn tại trung học tư thục Thánh Tâm,Thánh Mẫu,Thủ Khoa Huân, ở Sài Gòn.
        Năm 1969, ông tốt ngiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, ngạch Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Ra trường  ông lập gia đình với cô Phạm Thị Kim Thoa và dạy Văn tại trung học Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.      .
       Năm 1972, ông chuyển nhiệm sở về trung học Bình Tuy dạy Anh văn và dạy thêm tại trung học tư thục Vinh Tân, Bồ đề Quảng Đức.

       Sau 1975, ông được trả quyền công dân và xếp vào loại giáo viên lưu dung.dạy Văn  tại trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải  .
       Năm 1977,làm phó hiệu trửơng trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
       Năm 1994, làm hiệu trưởng Trung học Bán công Nguyễn Huệ, tại La Gi, tỉnh Bình Thuận    .

         Năm 2007, ông nghỉ hưu tại Thảo Điền, Tp.Hồ Chí Minh.
.


TÁC PHẨM
.

Ký họa của Đoàn Thuận
.

nhấn  tên bài hoặc số trang
để xem Thơ ĐOÀN THUẬN
ở dưới bài "nhận định" của quí Thân Hữu.
_________
__________________________
*

@ ĐOÀN THUẬN
. " rong chơi cùng cát bụi"
@ ĐOÀN THUẬN 2.
. "tác giả tác phẩm"..
@ ĐOÀN THUẬN.
"Facebook 319"

*

DU TỬ ĐOÀN THUẬN

HÀNH TRANG THƠ.
tg. Trần Cát Tường
[tr.47]
.


LỤC BÁT TỨ TUYỆT
ru
"LỜI CHIỀU".

tg.Trần Cát Tường.
[tr.48]

.

*
LỤC BÁT TAM CÚ

"TẠ ƠN ĐỜI"
tg.Trần Cát Tường
[tr.49]

 .

*
DU TỬ
"DƯỚI BÓNG MÂY"
tg.Cát Sỹ
[tr.51]

.

*
ĐÔI VẦN THẾ SỰ

tg.Đoàn Thuận.
[tr.50]

.

.
ĐOÀN THUẬN LƯU BÚT.
tg. Trần Cát Tường.
[trang 2].

.
CON CHŨ ĐẦU LÒNG.
tg.Đoàn Thuận.
[tr.3]

.
BÚT KÝ CÁT SỸ.
tg.Cát Sỹ.
[tr.4]

.
ĐOÀN THUẬN
rong ruổi cùng con chữ.

tg. Trần Cát Tường.
[tr.5].

*
Đoàn Thuận dạy học và làm thơ.
Tg.Bình Sơn.
[tr.6]

.
ĐOÀN THUẬN

LỜI RU LỤC BÁT.
Tg.Trần Phương Như.
[tr.7].

.
CHIỀU
trong
Thơ Lục Bát Đoàn Thuận.
Tg.Nhất Bảo.
[tr.8].

.
Cảm hứng Đường Thi
với
câu thơ Lục Bát Đoàn Thuận.
tg.Thái Anh.
[tr.9].

.
Từ
MÙA BẤT BIỂN,
nghĩ về một nét thơ.
tg. Võ Nguyên.
[tr.10].

.
Chuyện về MÙA BẤC BIỂN.
tg.Đoàn Thuận.
[tr.11]

*
Đoàn Thuận,
người đi tìm thời gian đã mất..

tg.Thái Doãn Hiểu
[tr.12].

.
Mái Xưa.
Tg.Đoàn Thuận..
tg.Đoàn Thuận
[tr.13]

*
ĐOÀN THUẬN
một
DU TỬ.

tg.Trần Cát Tường..
[tr.14].
.
Đường trần và du tử.
[tr.15].

.
Du tử theo mùa đi
18]

.
Cụ Già và du tử
tg.Đoàn Thuận
tr.19]

.
Du tử và Tứ Bần.
tg.Đoàn Thuận.
[tr.20].

.
Hạt bụi và du tử.
[tr.21]

.
Viên cuội và du tử
tr.22].

.
*
Một khoảng lặng đời hoa.
tg.Nguyễn Tĩnh..
[tr.16]
.
.
Một khoảng lặng.
tg.Trần Cát Tường..
[tr.17]
.

*
Đoàn Thuận
người gieo những mùa hoa.
tg.Lê Ngọc Trác
[tr.23].

.
Số Không trên LÁ. .
tg.Đoàn Thuận.
.[tr.24].

*

Đoàn Thuận dưới mưa.
tg.Trần Cát Tường.
.[tr.25]

.

Cảm nhận
về
"LỬA ĐÊM MƯA".

Tg.Phan Thanh Hải..
[tr.26].

*
Nghĩ về thơ Đoàn Thuận
từ
LỬA ĐẦU NON.
tg Lý Minh.
[tr.46].

*

Dân Ruộng trọ học.
tg.Đoàn Thuận
[tr.27].

.

Gác cây
nơi
RUỘNG CỎ.
Tg.Đoàn Thuận.
[tr.28].

Về lại Đất Trọ cũ.
Tg. Đoàn Thuận.
[tr.29]

*
Đôi điều
về
tập SẮC PHƯỢNG

tg Cao Hoàng Trầm.
[tr.30]..

.
*

SẬY DẠI TRƯỚC GIÓ MÙA..
tg.Đoàn Thuận..
[tr.21]

.
Tôi đi dạy
trước 1975 .
tg.Đoàn Thuận..
[tr.32].

.
Tôi lao động
sau 1975.
.tg.Đoàn Thuận.
[tr.33]..

.

*
Tập thơ TƯỢNG của Đoàn Thuận
rất ấn tượng.
tg.Trần Duy Lý
tr.34]

.
Bến Tô Châu..
tg.Đoàn Thuận
[tr.35].

.
.

*
Bài ca đẹp về quê hương La Gi.[36].
tg.Lý Minh

.
Quê nhà La Gi.[tr.37].
.tg.Trần Cát Tường

.
Dòng sông quê hương.[tr.38].    .
tg.Đoàn Thuận

.
Đồi Núi xứ La.[tr.39].
.tg.

.
Bến bờ.[tr.40].
.tg.Đoàn Thuận

.

*
SÀI GÒN

TÔI.
tg.Đoàn Thuận
tr.41]

.

*
Nỗi đau thơ ngây.
tg Đoàn Thuận..
[tr.42]
.
.

*
Một hoài niệm.
tg.Cát Sỹ
tr.43]

.
Một mái nhà..
tg.Đoàn Thuận.
.[tr.44]

.
VỀ VƯỜN
tg.Đoàn Thuận.
[tr.45]

*




 

TẬP THƠ của ĐOÀN THUẬN
lưu trong Blog
 ĐOÀN THUẬN 2.




@ 2013. 
+Tạ ơn đời. 
+Rong chơi cùng cát bụi.
+Dưới hoa.
+Lời chiêu.
+Đất và người.
+Đời sậy.
+Lửa đêm mưa.
+Mùa bấc biển.


th.7
+Mùa thạch thảo.
+Mái xưa.
*La Gi ngàn xanh.
*Thơ thiền Vương Duy.


th.10
+Tượng.


@ 2014. 
* Sắc phượng.
+Sài Gòn và tôi.
+Búp sen.
+Dấu xưa.
+Những điều nghe thấy.
+Lửa đầu non.


 

 *

THƠ ĐOÀN THUẬN. 
.

lưu trong Blog
RONG CHƠI CÙNG CÁT BỤI

[nhấn vào
tên tập thơ để đọc]

1.LỤC BÁT

+ Tạ ơn đời (Lục Bát tam cú)[ nxb Văn học 2013] (đoàn thuận tr.7))

+ Lời chiều. (Lục Báttứ tuyệt)[nxb Trẻ, 1996] (đoàn thuận tr.5))
+
Lửa đầu non.(Lục Bát trường thện)[nxb Trẻ,1999]  (đpàn thuận tr.6))

+ Mây mưa  [truyện thơ, in vi tính] (đoàn thuan tr.16)

2. THƠ TỰ DO
+ Rong chơi cùngcát bụi. [nxb Văn Học, 2012](đoanthuan tr.3)
Mùa bấc biển. [nxb Văn nghệ ,1994] (đoàn thuận tr.17)

Lửa đêm mưa.[nxb Trẻ, 1998] (đoàn thuận tr.12)

+  La Gi ngàn xanh  [nxb Trẻ 1997] (đoàn thuận tr.19)

Dưới hoa [nxbVăn Học 2013] (đt.14)

Sắc phượng.[Hội VHNT Bình Thuận] (đoàn thuận tr.9)

Khoảng lặngcủa hoa. [ nxb Trẻ, 2001] (đoàn thuận tr.15)

Tượng. [nxb Trẻ,2002[đoàn thuận tr.13]
 + Mái xưa  [nxb Văn Học,2013] (đoàn thuận tr.8)
 + Đời sậy [nxb Trẻ2003] (đoàn thuận tr.18]
 
+ Sài Gòn vàtôi.[in vi tính] (đoàn thuận tr.3)

 + Búp sen [thơ thiếu nhi] (đoàn thuận tr.11)
    Mùa trọ học (đoàn thuận tr.10)

3. THƠ HAIKU

+ Mùa thạch thảo [nxbVăn Học, 2013] (haiku tr.2)

+  Giọt mùa [thư pháp], [in vi tính]h]

4. THƠ ĐƯỜNG LUẬT :
+ Dấu xưa [in vi tính] (đường luật tr.2)


5.THƠ DỊCH  [dịch sang thể Lục Bát]
+   Đường Thi [nxb Văn Học, 2012]
(thơ dịch tr.2)
Thơ thiền Vương Duy [nxbThời Đại,2014]
(thơ dịch tr.9)

6. THƠ TRÀO PHÚNG :

 + Đất và Người.. [nxb Thanh Niên, 2013] (trào phúng tr.48)
)
+ Những điều nghe thấy [in vi tính] (trào phúng tr.51)

+ Tiếng dội từ đất [in vi tính]  (trào phúng tr.50)

+  Nghe thấy và nghĩ.[in vi tinh]  (trào phúng tr.53
)
+ Họa hủy diệt [in vi tính]
[tràn phúng tr.52]


7.TÙY BÚT 
+ Sậy dại trước gió mùa (lưu bút tr. 22)
                          

8.TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
+ 29 tượng bán thân được chạm từ vài loại đá đặc biệt ở La Gi
+ 7 tựợng nhỏ từ rễ cây gổ quí
ở La Gi.
+> tượng đá và tôi [lưu bút tr.2

.


 


                    

TIẾNG DỘI TỪ ĐẤT


tranh của Meyer Von Bremen
[bìa in lần 1]

     

THAY TỰA



Sống qua ngày, tôi như một phu chữ.
bởi tìm đâu ẩn số một tâm hồn.
khi chữ nghĩa đảo điên đời trong đục
Thú và Người lẫn lộn điều dại khôn.

Tôi tự mình ghi chép chuyện muôn phương
chẳng làm thơ, không viết sách học đường.
chỉ góp nhặt những mảng trời đất nước.
cùng bao điều biến đổi tang thương.


La Dạ, 1976
ĐOÀN THUẬN

HỌA HỦY DIỆT

  .

                  tranh
           
PATRICA WATWOO 
 
   

        HOẠ HUỶ DIỆT
                     thơ trào phúng
          

         MỒ HÔI
         NƯỚC MẮT

Hạt lúa từ mồ hôi
toả hương trên tay người
niềm đau và nụ cười
thấy trong lời nước mắt.

                 Khánh Hội, 2006
                      
ĐOÀN THUÂN

    .

   


.