ĐOÀN THUẬN 2

 


TÁC GIẢ TÁC PHẨM

tranh của Cinderella Tran




BÀI MỚI ĐĂNG
__________________________________________________________________              


                  

.          
.
         
             ĐOÀN THUẬN
             MỘT DU TỬ

            Đoàn Thuận vào đời tại làng Tân Lý, nơi Cha ông làm lý trưởng một thời. Trong ký ức bé thơ của ông, nơi ông sinh ra là một ngôi nhà cổ với tường vôi trắng mái ngói đỏ trong vườn cây ăn quả và nhìn ra hướng mặt trời mọc.

Trong vườn cây lâu năm.
Nhà Mẹ hướng ra mặt trời mọc
Một cây nguyệt quế thơm.

             Năm 1946, Pháp nhảy dù xuống Đồi Dương, chiếm ngôi nhà làm đồn lính trấn giữ một vùng rừng biển mênh mông. Dân làng táo tác tản cư vào Láng Đá, trốn sâu vào rừng Dinh Thầy và Cha ông đã qua đời trong năm loạn ly ấy. Từ đó, ông xa Mẹ xa làng theo Cô Dượng trôi dạt về phía nam La Gi. Cũng từ đó, ông như một du tử, một đứa con đi xa luôn nhớ mong về quê nhà.

Có lẽ phận đời tôi phải như thế
Vừa lọt lòng Mẹ, đã xa Mẹ, lưu lạc bên trời
Chiến tranh đi qua bể dâu đời ly tán.
Cha muộn phiền khuất núi về xa xôi.

            Suốt chín năm tản cư, tuổi thơ ông trôi dài qua bưng tràm Động Chú, rừng già Sao Cháy, nương rẫy Phò Trì, ruộng vườn Cù My, xóm chài Bến Lội,  Suối Muồng trong xanh, Bãi Tàu cát trắng, Bàu Sen thơm hương …

Ngày ấu thơ trôi theo những cánh rừng
Lá thu rụng vàng phía sau lưng
Tôi đâu dám ngoái nhìn đôi xóm mạc
Đâu thể quên cuộc chia tay nơi miền bưng

Lủi thủi qua ngang nhà ai bến lau thưa
Lời đồng dao miên man miền núi xưa
Mái cành nôm đong đưa ru nhịp võng
Lòng tôi buồn nhìn tím sắc hoa mua.

            Năm 1954, Ba Nuôi ông về Cái Bè nhận ngôi nhà của dòng họ để lại và định ở tại đây lâu dài. Dù được dưỡng nuôi đùm bọc trong tình thương của cô dượng mà ông yêu quí như Ba Má, ông vẫn không quên được những ngày ấu thơ bên Mẹ. Ngay sau đó, ông về lại Tân Lý tìm thăm Mẹ. Chiến tranh đi qua, họ hàng y tán, ngôi nhà xưa thành đống gạch vụn. Mẹ ông ở nhờ nhà một người dì, đào chang chép hái sâm cát, sống qua ngày. Ông xin phép Ba Má ở lại Tân Lý một thời gian, chăn trâu mướn để phụ Mẹ dựng căn nhà lá trên nền cũ đất xưa.

Lưu lạc bao năm con về đây.
Thương biết bao nhiêu dáng Mẹ gầy.
Mái lá nghiêng che đời khốn khổ.
Tóc Mẹ ngày nào trắng như mây.

Gió bấc lạnh đầy sau liếp thưa
Chăn đơn áo vải cho qua mùa
Bếp chiều quạnh quẽ thêm tro bụi
Than củi vô tình trước nắng mưa.

Mẹ đón con về bên bờ hoa.
Thương con thơ dại mắt lệ nhòa.
Nước trầu đỏ quệt ngang tiếng khóc.
Thấm tận hồn con nỗi xót xa.

           Cuối năm 1955, Ba ông bị bắt bị đày ra Côn Đảo. Má ông quay về Bình Châu làm thợ may sống cô độc qua ngày. Ông đành từ biệt Mẹ ra đi, về lại xóm nghèo Láng Găng. Một lần nữa, ông như một du tử trôi nổi theo dòng đời.

Chưa kịp về tạ ơn khi Ngoại đau
Lại giã từ quê hương, thương Mẹ bạc mái đầu
Đường đời mải miết bao bờ bến
Những dòng sông, con phố, những chuyến tàu

            Nhiều năm sau, Má ông về La Gi, còn ông tìm mọi cách lên tỉnh vào thành để tiếp tục con đường học vấn. Ông làm nhiều việc, xuôi ngược nhiều nơi và càng lúc càng xa thêm quê mẹ, càng trôi dạt về phương Nam. Từ Bình Châu ông lên Bà Rịa học đệ thất đệ lục, vào Saigon học đệ ngũ đệ tứ, quay về Bà Rịa theo ban tú tài, lại vào Saigon học Đại học Văn Khoa, Đại học Sư phạm.

Tôi vắt kiệt tuổi thơ khờ khạo kiếm sống
Đánh đổi từng giọt mồ hôi nuôi nấng ước mơ
Cạn khô nước mắt bao đêm thầm nhớ Mẹ
Quay quắt qua ngày lủi thủi trên dặm đường xa . 

Đôi khi co ro sân ga đêm, thẫn thờ bến đò muộn
Dù chẳng có ai để chia tay, để mong chờ
Đường ray sắt vào âm u, còi tàu nghe xa hút
Tiếng gọi đò từ muôn xưa vang vọng mơ hồ.

             Năm 1969, ra trường, ông lập gia đình và nhận nhiệm sở Hà Tiên, miền biển cuối đất nước, biệt mù quê nhà. Hà Tiên cũng là quê mẹ của thi sỹ Đông Hồ, của du tử Lâm Tấn Phát. Khi đến đây, ông cùng Nhóm thân hữu Hà Tiên tổ chức giỗ đầu cho Đông Hồ, vì gia đình Thi Sỹ sống nơi đất Sài Gòn. Còn du tử Trần văn Thuận xa quê mẹ La Gi tha phương đến đây cầu thực.Thập cảnh Hà Tiên thơ mộng không làm ông nguôi nhớ “La Gi ngàn xanh” của ông.

La Gi xa ngàn dặm lí.
cuối nơi mây trắng bay về
ngút mắt ngóng tìm làng cũ
chìm trong khói sóng chiều quê.

Và càng làm ông nhớ Mẹ da diết.
Ta nhớ hoài dáng Mẹ,
Gầy guộc chiều bên nương
Tóc trắng bù trong gió
Còn ta giờ tha phương.

           Năm 1973, ông chuyển nhiệm sở về Bình Tuy để sống gần Mẹ, gần Ba Má. Trong năm này, ông đưa hài cốt Cha ruột từ gò Bà Nghèo về đất thánh Tân Lý, yên nghỉ bên cạnh ông bà nội. Tiếp theo, ông mua đất ở Tân An và dựng một ngôi nhà với tường vôi trắng mái ngói đỏ trong vườn cây ăn quả mang hình ảnh ngôi nhà của Cha Mẹ ở làng Tân Lý xưa mà chiến tranh đã làm vỡ tan trong miền ký ức:

Ngôi nhà Mẹ ánh lửa bếp chiều ấm ký ức hoang vu
Ngói âm dương vỡ tan những mảnh vụn kỷ niệm
Âm thanh ngói rơi xuống tuổi thơ lời ru xưa.              

Tiếng ngói đổ chạm đáy hồn người tha phương.
Giọt trầu đỏ quệt ngang thềm phố cổ mùa đông.
Dội lên màu khói lửa nhức nhối tâm tư cô đơn.

           Năm 2003, khi nghỉ hưu, ông bán ngôi nhà cổ ở Tân An, lấy tiền tu sửa, xây kiên cố gần như toàn bộ mồ mả của ông bà nội ngoại, cha mẹ, ba má và người thân tại đất thánh Tân Lý, nghĩa trang Tân An và một số mồ hoang bỏ quên nơi Động Chú, Suối Cát, Sao Cháy. Làng Tân Lý là quê Ngoại, nơi chôn cất bao hài cốt của tổ tiên từ đất Quảng về đây dựng làng lập nghiệp. Vườn cây ăn quả trên đồi Tân An là khu vườn của bác Năm Lá nhượng lại, là nơi tiêu biểu
cho vùng đất khai hoang của bao họ tộc, cũng là nơi ông lưu giữ một ít đá cổ ở đất La Gi dưới dạng những bức tượng do ông tạc nên. Do đó, ngôi nhà ngói cũ  trong khu vườn ấy như nơi thờ tự, cũng là nơi vương vấn biết bao kỷ niệm của  gia đình ông. .

Tôi ngồi trước án thư hư mọt,
nơi ánh đèn trang sách vợ con tôi,
bao mùa học một thời.
mơ một mùa hoa mới.

Vách sờn còn treo tờ thư pháp,
một câu thơ bỏ quên,
trên tượng đá lặng yên,
khuôn mặt vàng bụi phủ.

Bao ngày mái xưa buồn vui thức ngủ,
nay dưới bóng trăng tà,
sương thấm lạnh thềm hoa,
tôi nghe ấm một đêm tình đất Mẹ.

             Năm 2007, ông từ giã tất cả, về sống với người con trai Út ở Thủ Đức.  Cuối đời, ông vẫn như một du tử biệt xứ ra đi, dù rằng Mẹ không còn tựa cửa  mỏi mòn mong ngóng đứa con “rong chơi cùng cát bụi”.

Cuối đời biệt xứ ra đi
Hồn thiêng đất mẹ đạo nghì trên lưng
Nỗi oan thả gió qua rừng.                             

Giờ nơi phố lạ người dưng
Bạc phơ mái tóc chưa ngừng lãng du
Lần mò về cõi thiên thu.

         Sài Gòn xưa là miền đất trọ cũ. Về đây, du tử lần mò hỏi thặm những người bạn thời hoa niên, những người đồng song đồng nghiệp đồng hành thời ly loạn. Tất cả như xa lạ, như khuất sâu trong ký ức u buồn. Còn chăng chỉ là vài nhóm thân hữu già nua phiêu bạt muôn nơi trên không gian mạng.

Tôi về đất trọ qua mùa.
Tàn tro hương lửa thẹn thùa hôm mai.
Miên man hoa nở hoa phai.
Thu sang lá rụng, đông cài giá băng.                

         Du tử Đoàn Thuận, vĩnh viễn xa Mẹ, lặng thầm rong chơi qua miền ký ức buồn vui của ông.      

         Thảo Điền, 2012                           
        
TRẦN CÁT TƯỜNG.
.


NHỚ LẠI TUỔI THƠ

Đôi khi ngồi nhớ lại đời.
Thấy ta côi cút một thời trẻ con.
Bấm chân bùn vượt lên non.
Cha vào thiên cổ. Mẹ mòn mỏi xa..

Dưới trăng đâu tỏ màu hoa.
Ôm bao mộng ước ta qua đồng chiều.
Tưởng đời như một cánh diều.
Vi vu bay giữa bao nhiêu mây trời.

Ấu thơ ơi, thuở đầu đời.
Vài ly nước lạnh ta mời mọc ta.
Từng ngày ga xép tàu qua.
Ta như Du Tử buồn xa quê nhà.

Ga Bình Triệu, 1960.
CÁT SỸ.
.

          tranh của Abram Arkhipov
,






________________________________________

i trên đây được lưu lại dưới tiêu đề

ĐOÀN THUẬN
MỘT DU TỬ.

tg.Trần Cát Tường..
[thơ đoàn thuận.  tr.14

.


 


TÁC GIẢ


ĐOÀN THUẬN 




* Đoàn Thuận tên thật là Trần văn Thuận, tự Cát Sỹ. Sinh năm 1943 tại Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa (theo  khai sanh). Thực ra, ông sinh năm Canh thìn, 1940, tại làng Tân Lý, La Gi, tỉnh Bình Thuận, trong một gia đình khá giả. Cha ông là Trần Văn Ngự, một lý trưởng của làng  trong nhiều năm.

* Năm 1946, Pháp chiếm nhà làm đồn Tân Lý và cha ông đã qua đời trên đường chạy giặc. Ông theo Ba Má nuôi tản cư qua những cánh rừng dọc theo bờ biển từ La Gi đến Bình Châu.   

* Sau 1954, gia đình ly tán, ông lưu lạc nhiều nơi, làm nhiều công việc để được đi học và đã  …
+ học xong tiểu học ở Bình Châu,  
+ học trung học đệ nhất cấp ở Gia Định, 
+ học ban tú tài ở Bà Rịa, 
+ học Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm ở Sài Gòn.

* Năm 1963, ông dạy Văn tại trung học tư thục Thánh Tâm,Thánh Mẫu,Thủ Khoa Huân, 
ở Sài Gòn.
Năm 1969, ông tốt ngiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, ngạch Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Ra trường  ông lập gia đình với cô Phạm Thị Kim Thoa và dạy Văn tại trung học Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.      .
Năm 1972, ông chuyển nhiệm sở về trung học Bình Tuy dạy Anh văn và dạy thêm tại trung học tư thục Vinh Tân, Bồ đề Quảng Đức.

* Sau 1975, ông được trả quyền công dân và xếp vào loại giáo viên lưu dung.dạy Văn  tại trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải  .
Năm 1977,làm phó hiệu trửơng trường Cấp 3 Hàm Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Năm 1994, làm hiệu trưởng Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận    .

*  Năm 2007, ông nghỉ hưu tại Thảo Điền, Tp.Hồ Chí Minh.



TÁC PHẨM


TÁC PHẨM với NỘI DUNG .
[bấm vào tên tập sách]

MIỀN ĐẤT TRỌ:
  La Gi ngàn xanh [nxb Trẻ 1997] [tr.tg.đoàn thuận 19]

+   Sài Gòn và tôi. [in vi tính] [trang.tác giả đoànthuận 4]
+   Mùa bấc biển. [nxb Văn nghệ Tp.HCM,1994] [tr.tác giả.đoàn thuận 17]
+   Mái xưa [nxb Văn học,2013] [tr.tg.đoanthuan 8]

DU TỬ:
+   Rong chơi cùng cát bụi. [nxb Văn Học,2012][tr.tg.đoàn thuận 3]
+   Dưới bóng mây [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận.20]
+   Khoảng lặng của hoa. [ nxb Trẻ, 2001] [tr.tg đoàn thuận 15]
     Lời thư bụi (thơ Cát Hoa) [tr.lưu bút 4]

QUAN HỆ XẢ HỘI:
+   Tạ ơn đời (lục bát tam cú)  [nxb Văn học 2013] [tr.tg.đoàn thuận 7]
+   Lời chiều.(lục bát tứ tuyệt) [nxb Trẻ,1996][tr.tg đoàn thuận 5]
+   Lửa đầu non. (lục bát trường thiên) [nxb Trẻ,1999] [tr.tg đoàn thuận 6]
Tượng.  [nxb Trẻ, 2002] [tr.tg đoàn thuận 13]
+   Dưới hoa [nxb Văn học 2013] [tr.tg đoàn thuận 14]
+   Lửa đêm mưa. [nxb Trẻ 1998] [tr.đoàn thuận 12]
Đời sậy  [nxb Trẻ, 2003] [tr.đoàn thuận 18].
Dấu xưa  [in vi tính] [thơ đường luật.2]
+  Mây mưa  (truyện thơ)  [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 16]

VĂN HÓA GIÁO DỤC:
+   Sắc phượng.[Hội VHNT Bình Thuận,2006 ] [tr.đoàn thuận 9]
+   Mùa trọ học [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 10]
+   Búp sen (thơ thiếu nhi) [in vi tính] [tr.tg đoàn thuận 11].
     Con chữ và tôi [in vi tính]. [tr.tg Đoàn Thuận. 22]
Những điều nghe thấy [in vi tính] [tr.trào phúng.51]

THƠ DỊCH:
+  Đường Thi [ thơ dịch]  [nxb Văn Học, 2012] [thơ dịch.2>>82]
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch)[nxb Thời đại 2014] [tthơ dịch.9]
+  Mùa thạch thảo [nxb Văn học, 2013] [thơ haiku.2]

THẾ SỰ:
Đất và Người  [nxb Thanh niên, 2013] [tr. trào phúng.48]
Tiếng dội từ đất  [in vi tính] [tr.trào phúng.50]
+  Nghe thấy và nghĩ [vi tính] [trang traò phúng.53]
Họa hủy diệt [in vi tính] [tr,trào phúng.52/

BÚT KÝ:
+  Những mảng vỡ thời gian [bị tịch thu,1975]
+  Những miền đất trọ.[bị tịch thu,1975]
Sậy dại trước gió mùa [in vi tính] [tgđt 21]

THƯ PHÁP
+  Giọt mùa (thư pháp)  [in vi tính]

TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
+ 29 tượng bán thân được chạm từ vài loại đá đặc biệt ở La Gi
+ 7 tựợng nhỏ từ rễ cây gỗ quí ở La Gi.

 Như vậy,                              .
+ trên 40 năm ông gắn chặt đời mình với phấn trắng bảng đen, với biết bao thăng trầm như  một số phận. Ông tự ví cuộc đời ông như cuộc rong chơi cùng cát  bụi.                  + 26 tập sách ghi lại cuộc đời lưu lạc xa mẹ xa quê của ông như một hành trang.




THỂ LOẠI.
______________________________________________________


 
Ngoài thể Đường luật lâu đời theo dòng văn chương Việt-Hán, hay thể Tự do thoát thai từ thơ ca Tây phương trong phong trào Thơ mới và thể Haiku của Nhật Bản, thơ Đoàn Thuận phần lớn  được viết theo thể Lục bát thuần Việt.         .

1.LỤC BÁT. Lục Bát Đoàn Thuận có ba dạng: .
+ Lục bát trừơng thiên,        
+ Lục bát tứ tuyệt,           
+ Lục bát tam cú.               
* Lục bát trường thiên gồm có ba cặp lục bát tức sáu dòng thơ trở lên. Lửa đầu non, Trường ca La Gi, truyện thơ Mây Mưa đươc viết theo thể dạng này. Thơ tiếng nước ngoài cũng được ông dịch sang lục bát như tập Đường ihiThơ thiền Vương Duy.                           .
* Lục bát tứ tuyệt chỉ có hai cặp lục bát trong bốn dòng thơ. Một bài  Lục bát tứ tuyệt thường bày tỏ dứt điểm một ý chính. Mở đầu tập Lời Chiều, ông viết:                              .
Bốn câu lục bát xa xôi.    
gửi Mẹ khúc hát một thời ru con  
gửi vầng trăng phía sau non  
lá dương liễu rụng lối mòn về Em.  

Bốn câu lục bát ghi trọn nỗi nhớ quê của một đứa con lưu lạc xa xôi. Trong cõi nhớ ấy, có Mẹ ru con, có Em dạo quanh con đường lá dương liễu rụng dưới vầng trăng quê hương. Bốn câu lục bát như khúc hát một thời, như lối mòn đi về trong ký ức. Nỗi nhớ dịu êm một thoáng buồn.

* Lục bát tam cú (Lục bát ba câu) gồm 20 âm tiết phân trên 3 dòng 6/8/6,ghi lại một ý chính. Tựa của tập thơ Tạ Ơn Đời ghi:   
Tạ ơn trời đất núi sông,
cho tôi xuôi ngược chơi rong một thời,
tạ ơn Mẹ,tạ ơn đời.

Một bài tam cú có thể có nhiều khổ để lưu lại nhiều ý liên kết nhưng chữ thứ 6 trong câu cuối của khổ một 1 phải hiệp vận với chữ thứ 6 trong câu đầu của khổ 2. Khổ 1 trong Một trang viết không ghi đầy đủ các ý nên cần đến khổ 2 như dưới dây.                             
1.

Đôi dòng lục bát ba câu.
sao gom hết được mối sầu nhân gian.
Sách xưa mối mọt nhấm vàng.
2.
Rách nhầu giấy dó tan hoang.
Án thư nghiên bút mênh mang gió lùa.
Trời chờ phác thảo đêm mưa.

Chữ vàng hiệp với chữ hoang theo vần ang. Cứ như thế nếu có khổ 3. Đây chính là sự khác biệt giữa Luc bát tam cú của Đoàn Thuận và Lục bát ba câu của tác giả khác.

2. Thể HAIKU
Đầu thập niên 60, trên trang lưu bút của nhóm  Kiến trúc Saigon
xuất hiện những bài thơ Haiku viết tay, theo kiểu thư pháp, không tựa đề, chỉ ký tên Trần Thuận. Khi về Thảo Điền, chúng tôi có dịp liên hệ với các nhóm thân hữu của ông và sưu tập được gần 200 bài Haiku  cùng trên 30 bức thư họa. Với sự hỗ trợ của nhóm Ái hữu Đại học Sư phạm Saigon ở Pháp, chúng tôi biên tập thành Giọt Mùa, một tập thơ Haiku với 130 trang thư pháp.
Năm 2013, Nhóm Thân Hữu ở Pháp, một lần nữa, giúp chúng tôi xin giấy phép xuất bản tập Mùa Thạch Thảo. Trong tập thơ này, ông dùng thể Haiku của Nhật Bản để ghi lại cảm nhận của mình khi đọc các Quẻ trong Kinh Dịch của Trung Quốc.

Haiku là thể thơ cổ của Nhật Bản xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6. Một bài Haiku gồm 17 âm tiết phân bố trên ba dòng 5/7/5 theo một bố cục chặt chẽ, trong đó phải có nội dung về Mùa. Đoàn Thuận vẫn giữ đủ 17 âm tiết trên 3 dòng, nhưng thứ tự dòng thơ đôi khi thay đổi và có vần điệu ở cuối câu  cho phù hợp với âm sắc Tiếng Việt. Do đó, Haiku Đoàn Thuận rất gần với dạng Lục bát ba câu trong thơ ca Việt Nam.
Ví dụ:
sợi tóc trắng trên gối,
tơ nhện giăng ngang hạt lệ trời,
nghe gần bước chân mỏi.

3.Thơ trào phúng.   

Đoàn Thuận có mảng trào phúng phản ánh hiện thực xã hội khá phong phú trong 6 tập thơ sau:
+Đất và Người,          
+Tiếng dội từ đất,  
+Những điều nghe thấy,   
+Nghe thấy và nghĩ,           
+Họa hủy diệt.

4. Bút ký.                                 
        Ngoài phần thơ nói trên, Đoàn Thuận còn có 5 tập bút ký, dưới dạng tùy bút, gồm những  đoản  văn  ghi lại Những mảng vỡ thời gian, Những miền đất trọ, ký tên Trần Văn Thuận. Trong sáu ngàn trang bản thảo, ông ghi lại những gì ông nghe thấy trên đường đi học và đi dạy từ năm học đệ thất ở Bà Rịa đến 1970, khi ông dạy học ờ Hà Tiên.
Năm 1975, Ban Quân quản đã tịch thu  5 tập bút ký cùng với nhiều sách quí xuất bản ở miền Nam. Sau đó nhiều lần ông có làm đơn xin lại những tập bút ký nói trên nhưng Sở Công an Bình Thuận đều trả lời “không tìm thấy”.
Năm 2012, khi về nghỉ hưu ở Thảo Điền, nhiêu thân hữu, đã từng đi học đi dạy với ông trước 1975, hỏi thăm về hoàn cảnh sinh sống của ông. Qua internet, ông cảm tạ quí thân hữu bằng hồi ức về một thời đã qua.Chúng tôi sưu tập và lưu lại trong tập tủy bút Sậy dại trước gió mùa.
 

 

 

GHI CHÚ 
_________________________________.


.         Về thể loại, dường như Đoàn Thuận có cách dụng riêng để ghi lại cảm nghĩ của mình trước cuộc sống:

*  Ở mảng thơ tự do, ông có những bài ít lời rất cô đọng, nhưng cũng có câu rất dài theo thể Hậu hiện đại để diễn tả trọn vẹn một sự việc hay một ý nghĩ, như  trong Giọt thời gian có mấy câu:                       .
chậm chạp ngày qua cây sầu đông làn sương nhạt   .
lối sỏi thềm hoa, sa lông trống, không ai về.
phin buổi sáng nhỏ giọt, đậm đặc, thời gian cà phê
muỗng nhỏ,thẩu đường,chờ dỗ ngọt tách pha lê đắng
mùa đi, bao nhiêu năm, ta về một góc quê.             

Ở mảng bục bát. Ông giữ đúng luật âm vận ở cuối câu, còn lại đôi khi ông cách nhịp, tách ý rất lạ.
Con tàu mang nỗi nhớ qua.    
Nhớ, ta nhớ cả đường xa phố gần.
Không mong,ngày đi hao dần.  





CHỦ ĐỀ
.




          ĐẤT và NGƯỜI 
là chủ đề chính trong tác phẩm của Đoàn Thuận.Đất đối với ông là Trái Đất của muôn loài, là lãnh thổ của một dân tộc, là quê quán của một Người. Người tìm Đất khẩn hoang lập ấp, khai thác tài nguyên, xua đuổi thú dữ để tồn tại. Đất cũng là mục tiêu của chiến tranh xâm lược, là nơi chôn dấu bao xác Người.       
Đất là nơi Người đến trọ.
Đất không ngừng biến đổi,
Người luôn tìm chốn bình yên.

Đôi khi chỉ cần một rẻo Đất để dựng mái lều, gieo hạt giống.                
Nhưng Người phải đối diện với Thú

 Chủ đề Đất và Người được thể hiện qua những đề tài khác nhau.

* Trong mảng thơ trào phúng, Đoàn Thuận phản ánh một phần hiện thực của xã hội loài  người đôi khi pha lẫn đôi điều phê phán.
+ Đất và người: Tập thơ phản ánh mối quan hệ chằng chịt giữa người và người, những biến động xã hội, cùng những biến đổi khí hậu toàn cầu.
+ Những điều nghe thấy, Nghe thấy và nghĩ:  ghi lại những sai lầm dẫn đến những hậu quả biện chứng của một chế độ độc tài toàn trị.
+ Họa hủy diệt, Tiếng dội từ đất:  Nông nghiệp và ngư nghiệp là hai nguồn sinh sống của dân tộc Việt Nam có từ thời Lạc Hồng, nay bị đe dọa hủy diệt và Dân đứng lên đấu tranh giành lại chủ quyền trên mảnh đất tổ tiên.

* Trong mảng thơ trữ tình, Đoàn Thuận như một du tử, một đứa con xa Mẹ rong chơi qua cõi đời gió bụi. Trong cuộc lữ hành, du tử gặp bạn đời dưới bóng hoa, nhớ mẹ nơi quán trọ,mong về quê cũ bên thềm ga vắng
+ La Gi ngàn xanh, Sài Gòn và tôi, Mùa bấc biển, Lửa đầu non, Tượng chính là một quê hương, một mảnh đất trọ, một cõi di về của du tử.
+ Rong chơi cùng cát bụi, Tạ ơn đời là cuộc lữ hành của du tử.
+ Mái xưa, Lời chiều là nỗi nhớ quê nhớ mẹ.
+ Dưới hoa, Khoảng lặng của hoa, Lửa đêm mưa: Du tử cùng bạn đời chia sẻ buồn vui giữa cuộc đời dâu bể.
+ Sắc phượng, Búp sen : Du tử dưới mái trường.

Thảo Điền, 2012.
TRẦN CÁT TƯỜNG


 

 
TƯỢNG 
do Đoàn Thuận tạc

.



TIẾNG DỘI TỪ ĐẤT


tranh của Meyer Von Bremen
[bìa in lần 1]

     

THAY TỰA



Sống qua ngày, tôi như một phu chữ.
bởi tìm đâu ẩn số một tâm hồn.
khi chữ nghĩa đảo điên đời trong đục
Thú và Người lẫn lộn điều dại khôn.

Tôi tự mình ghi chép chuyện muôn phương
chẳng làm thơ, không viết sách học đường.
chỉ góp nhặt những mảng trời đất nước.
cùng bao điều biến đổi tang thương.


La Dạ, 1976
ĐOÀN THUẬN

HỌA HỦY DIỆT

  .

                  tranh
           
PATRICA WATWOO 
 
   

        HOẠ HUỶ DIỆT
                     thơ trào phúng
          

         MỒ HÔI
         NƯỚC MẮT

Hạt lúa từ mồ hôi
toả hương trên tay người
niềm đau và nụ cười
thấy trong lời nước mắt.

                 Khánh Hội, 2006
                      
ĐOÀN THUÂN

    .

   


.